Thứ Bảy, 9 tháng 5, 2020

NỮ TU DÒNG MẾM THÁNH GIÁ VINH TĨNH TÂM NĂM 2020

Trong 2 tuần liên tiếp, từ ngày 8-14 và 15-21/6/2020, chị em Hội Dòng Mến Thánh giá Hà Nội đã và đang diễn ra hai cuộc Tĩnh tâm, đợt I cho 130 chị em đã khấn trọn và đợt II cho 126 chị khấn tạm, tại khuôn viên Đại chủng viện Thánh Giuse Hà nội, do Cha Giuse Nguyễn Thể Hiện thuộc Dòng Chúa Cứu Thế hướng dẫn.
Tạ ơn Chúa đã cho thời tiết mát mẻ hơn so với những năm trước, không gian yên tĩnh, lại có cha giảng phòng thật khôi hài và rất nhậy bén với những kinh nghiệm thực tế trong đời sống tu dòng hôm nay. Cha hướng chị em nhìn trực diện vào con người cụ thể trong hoàn cảnh và môi trường cụ thể của mình, với những tư duy của thế giới hiện đại, thế giới ấy luôn mang trong mình cái nhìn tiêu cực về con người và cuộc sống, nó luôn tìm cách bảo về cái tôi ích kỷ, hẹp hòi. Thế nên, tĩnh tâm sẽ là cơ hội và thời gian để Chúa sửa dạy, uốn nắn và thanh luyện mình sao cho mọi tư tưởng, suy nghĩ, cách sống, cách hành xử của mình phù hợp với Tin Mừng của Chúa, với cái nhìn và thánh ý Chúa.
Bước vào cả hai Tuần Tĩnh tâm, Cha giảng phòng mời gọi chị em thực hiện ba tiêu chí: THINH LẶNG – CẦU NGUYỆN – LẮNG NGHE. Song song với ba tiêu chí ấy là ba tâm tình THỜ PHƯỢNG – YÊU MẾN và HIẾN DÂNG.
Và hơn một lần Cha giảng phòng xác tín, người tu đích thực là người để cho con tim của Chúa, tâm của Chúa lớn dần lên trong cuộc đời của mình, để từ đó Thiên Chúa mở ra nơi chúng ta một con đường của sự hiệp thông, sự hòa giải, tình yêu và tha thứ. Cái làm nên giá trị con người không nằm ở chỗ ta tài giỏi, xinh đẹp hay giàu có, nhưng là sự gắn bó, kết hợp của ta với Chúa. Hãy để Chúa “CHẠM” vào ta và hãy để những yếu đuối, tổn thương, dị dạng của ta được “CHẠM” vào Chúa để Chúa chữa lành.
Nguyện xin tình yêu của Đức Giêsu Kitô chịu đóng đinh đổ tràn đầy ơn thánh xuống từng chị em chúng con, để sau lần tĩnh tâm này, mỗi chị em chúng con có được xác tín hơn vào con đường của mình đã chọn và quyết tâm sống gắn bó ngày một khăng khít hơn với linh đạo của Hội Dòng , để dù sống ở đâu hay làm gì, chị em luôn là những tu sĩ của niềm vui, bình an và hạnh phúc.
 14171 mtg 514171 mtg 514171 mtg 514171 mtg 5

Thứ Sáu, 8 tháng 5, 2020

BA CHỮ “S” ĐỜI DÂNG HIẾN


BA CHỮ “S” ĐỜI DÂNG HIẾN


BA CHỮ “S” ĐỜI DÂNG HIẾN


+ Giuse Vũ Duy Thống.
Đọc Huấn thị “Xuất Phát Lại Từ Đức Kitô” nhân dịp kỷ niệm năm năm ban hành.
Tình cờ gặp lại mấy người nước ngoài ghé thăm Việt Nam, tôi đùa: “Chắc trốn bệnh SARS ở Hongkong nên mới trôi dạt tới đất nước hình chữ S này?” Họ cười và trả lời: “Trốn một chữ S, nhưng đến Việt Nam lại gặp được ba chữ S tuyệt vời. Đó là “Sand, Sea, Sun” không chê vào đâu được”.
Thấy ngồ ngộ, tôi ghi nhận. Và hôm nay, nhân dịp kỷ niệm năm năm ban hành Huấn thị “Xuất Phát Lại Từ Đức Kitoâ” (19.05.2002 – 19.05.2007), xin được chia sẻ về ba chữ S gặp thấy trong Huấn thị này. Hy vọng nếu có ba chữ S đã thu hút du khách tới Việt Nam, thì cũng có ba chữ S thu hút những người sống đời dâng hiến đến với những bước dấn thân mới.
Ba chữ S đó là: – Say mê Đức Kitô – Sống đời hiệp thông – Sẵn sàng chèo ra chỗ nước sâu.
I. SAY MÊ ĐỨC KITÔ
Tự căn bản ơn Thánh Tẩy, mỗi người ý thức hay không ý thức, ý thức nhiều hay ít, đều là người nhà của Đức Kitô. Vì thuộc tính Kitô này mà người ta được mang danh “Kitô hữu”, nghĩa là không chỉ thuộc về Đức Kitô, mà còn hướng về Đức Kitô và tìm về Đức Kitô nữa.
1. Thuộc về Đức Kitô
Trước hết, khởi đi từ bí tích Rửa Tội, Kitô hữu trong ơn gọi phổ quát cho hết mọi người không phân biệt giống phái, là người thuộc về Đức Kitô. Tự bản chất, Kitô hữu là như thế. Nhưng hơn nhau ở chỗ có biết làm cho danh xưng ấy được rạng rỡ nơi đời sống của mình hay không. Không biết danh xưng khác như thế nào, chứ “Kitô hữu” là một danh xưng cơ bản, có trước tất cả mọi danh xưng trong nhịp sống Giáo Hội. Trước khi là tu sĩ người ta đã là Kitô hữu, trước khi là linh mục người ta đã là Kitô hữu, trước khi là giám mục người ta đã là Kitô hữu. Tất cả mọi danh xưng khác sẽ có cùng với danh xưng Kitô hữu hoặc sẽ không có gì cả.
Do đó, tìm lại ý nghĩa căn bản tức là một cách nào đó về nguồn, tìm lại chính suối nguồn của mình, và đây là một cơ may để giúp những ai sống đời thánh hiến tìm lại nét xuân trẻ cuộc sống tâm linh.
Huấn Thị “Xuất Phát Lại Từ Đức Kitô” mời gọi mọi người trước hết xuất phát lại từ đặc tính “thuộc về Đức Kitô”.
Tìm lại ý nghĩa căn bản này là một thái độ trút bỏ những điều cồng kềnh để chỉ giữ lại ý nghĩa nguyên tuyền nhất. Ví dụ việc đào luyện trong một hội dòng được tổ chức cách lớp lang qua các giai đoạn với nhiều lần ‘sinh đi sinh lại’: từ ứng sinh, thỉnh sinh, tiền tập sinh, tập sinh rồi mới đến khấn sinh. Ít nhất phải năm lần sinh tới sinh lui mới trở thành một tu sĩ. Như thế, ai cũng phải sinh lại nhiều lần, rồi từ từ mới thấy mình rõ hơn trong cương vị là người phục vụ Đức Kitô.
2. Hướng về Đức Kitô
Nhưng nơi đời thánh hiến, cách riêng những người đã khấn, đã chọn Đức Kitô làm lẽ sống đời mình, người ta còn phải hướng về Đức Kitô nữa. Bởi lẽ bất cứ điều gì mình thực hiện hôm nay, nếu không tìm gặp chiều dài hay chiều sâu nội tâm cần thiết, thì chỉ là công việc của con người và chỉ là nỗ lực của một thời mà thôi. Nhưng khi hướng về Đức Kitô, gặp được khởi đầu và cùng đích là Người, lúc đó sinh hoạt của mình mới có giá trị, cho dù sinh hoạt đó có nhỏ bé và âm thầm, nó vẫn mang một giá trị Kitô, hay nói theo ngôn ngữ nhà đạo, nó mang một giá trị cao vượt, giá trị đời đời.
Ngày xưa người ta có khuynh hướng tách biệt con đường cầu nguyện chiêm niệm với con đường say mê hoạt động. Thế nhưng, hôm nay dù những cộng đoàn có ơn gọi đặc biệt theo một trong hai con đường này vẫn phải dung hòa cả hai theo cùng một hướng Kitô. Có Matta thì cũng phải có Maria, để làm đẹp lên một lẽ sống, dù im lặng ngồi dưới chân Chúa không nói gì chỉ biết
lắng nghe như cô Maria, thế mà lại là phần tốt nhất. Nhưng nếu ai cũng chọn vòng trong là phần tốt nhất, thì ai sẽ là người lo liệu vòng ngoài như cô Matta?
Do đó, khi đã hướng về Đức Kitô, dù được phân công hiện diện ở con đường nào, mình vẫn cứ an tâm đi theo. Đức Kitô là lẽ sống. Hướng về Đức Kitô để tìm cho bất cứ đường lối sinh hoạt nào của cộng đoàn một ý nghĩa Kitô, đó là đi vào đời sống thánh hiến một cách dung dị nhưng đồng thời lại rất vững bền.
Cách riêng đối với từng người, khi qua những nhịp cầu cheo leo, nếu biết hướng về Đức Kitô dù với bàn tay đưa lên rất yếu đuối, vẫn gặp được cánh tay “quan phòng” kéo lên hay đẩy tới từ phía sau. Ý thức mình chỉ là hạt cát nhỏ bé trong vũ trụ bao la, đó là khởi đầu cảm nghiệm niềm hạnh phúc hướng về Đức Kitô của đời hiến dâng.
3. Tìm về Đức Kitô
Trước những vấn đề mới của thời đại, ta được mời gọi để tìm về Đức Kitô trong những địa chỉ sự sống, ở đó, Đức Kitô xuất hiện như lương thực nuôi dưỡng đời dâng hiến. Trong Huấn thị, tác giả nhắc đến ba địa chỉ truyền thống. Tìm về những địa chỉ này là tìm được sự sống mới cho bản thân trong tư cách cá nhân hay trong tư cách cộng đoàn.
Địa chỉ thứ nhất là Lời Chúa (số 24). Trên báo Tuổi Trẻ, khi nghệ sĩ ưu tú Thế Anh được phỏng vấn: “Tại sao trải qua mấy chục năm mà vẫn bám trụ được với nghề điện ảnh?” Ông trả lời bằng một câu đầy ấn tượng: “Phải suốt đời đọc, suốt đời học, suốt đời quan sát và suốt đời tổng hợp”. Từ “suốt đời” được hữu ý sử dụng bốn lần khiến ta bất giác nghĩ tới đời sống tu trì. Như thế, đối với Lời Chúa, mình cũng phải có thái độ “biết đọc, biết học, biết quan sát và biết tổng hợp”, nghĩa là biết lắng nghe và thực hành. Lời Chúa là nguồn mạch sự sống, tìm về nguồn mạch này đòi buộc ta phải hòa mình vào Lời của Chúa để kiếm tìm lương thực nuôi thân. “Người ta sống không nguyên bởi bánh, nhưng bởi mọi lời do miệng Thiên Chúa phán ra” (Mt 4, 4).
Địa chỉ thứ hai là bí tích Thánh Thể (số 26). “Thịt Ta thật là của ăn, Máu Ta thật là của uống” (Ga 6, 55). Trong Đông y có nguyên tắc “ăn gì bổ nấy”. Không biết đúng sai. Muốn bổ óc thì ăn óc, nhưng muốn bổ tóc thì ăn gì? Tuy nhiên nguyên tắc này lại đúng tuyệt đối trong trường hợp bí tích Thánh Thể. Ăn Mình Máu Chúa Kitô thì bổ “chất Kitô” nơi chính bản thân trong tư cách là chi thể của Chúa Kitô. Giáo Hội khai triển ý nghĩa này trong môn Giáo Hội Học. Khi nói Giáo Hội là thân mình Đức Kitô, ta được mời gọi để tìm về bí tích Thánh Thể. Thánh Thể làm nên Giáo Hội và Giáo Hội lại là một nhiệm tích làm nên Thánh Thể. Đây là hai cực của cùng một chủ đề duy nhất là sự sống Chúa Kitô. Ngày nào Giáo Hội còn, ngày đó bí tích Thánh Thể vẫn còn chỗ để hiện diện; và ngày nào bí tích Thánh Thể còn được tôn vinh ở trong lòng những người yêu mến thì lúc ấy tính Giáo Hội sẽ rạng rỡ qua những sinh hoạt dựng xây.
Địa chỉ thứ ba là ý Cha qua hình ảnh “Chúa Kitô bị bỏ rơi trên Thập Giá” (số 27). Ý Chúa là cây chiều dọc, ý mình là cây chiều ngang. Thánh giá xuất hiện khi “ý Chúa – ý mình” gặp nhau tại tâm điểm là trái tim quảng đại. Chúa Giêsu đã nói minh nhiên rằng: “Lương thực của Ta là làm theo ý Đấng đã sai Ta” (Ga 4, 34). Ý Chúa là nguyên liệu, mỗi người có thể chế biến cùng với kinh nghiệm để vừa với khẩu vị của mình. Nhưng ý Chúa khác ý mình lắm. Chính khi đảm lĩnh cái “khác biệt” đó, người ta mới thấy hương vị của lương thực ý Chúa trong đời mình thế nào. Những khi bề trên không hiểu ý mình và những khi thiện chí của mình bị thiện chí của người khác làm chừng lại. Lúc ấy ý Chúa khó biết bao đến nỗi vòng tay của mình có khéo cách mấy cũng không ôm gọn hết được; nhưng vượt qua được khúc quanh ấy, ta sẽ hiểu lương thực sự sống ở trong ý Chúa mạnh mẽ đến mức nào.
Tóm lại cho điểm thứ nhất “say mê Đức Kitô”, Huấn Thị có câu gợi ý là “hãy tìm lại tình đầu”. Nếu như tình đầu có sức gắn bó không thể nào quên nhưng đã bị mờ đi theo lớp bụi thời gian, thì đây là lúc phủi đi lớp bụi ấy, tìm lại tình đầu, tìm lại nét xuân trẻ đời dâng hiến, tìm lại hương vị tươi mới của mùa xuân. Như trong bài hát “Chúa Cất Tiếng Gọi Con” của Việt Khôi, có câu: “Đây bao tâm tình yêu dấu, nguyện dâng hiến mãi như lần đầu”. Mỗi lần khấn lại, khấn trọn đời, kỷ niệm Ngân khánh, Kim khánh… người ta như trở lại tình đầu của mình.
II. SỐNG ĐỜI HIỆP THÔNG
Trong Huấn Thị “Xuất Phát Lại Từ Đức Kitô”, Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã nói đến nền linh đạo hiệp thông (số 28). Nền tảng của linh đạo hiệp thông này không phải là điều gì khác ngoài mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi. Thiên Chúa tỏ cho biết Ngài là Thiên Chúa duy nhất trong một gia đình Ba Ngôi, nên Ngài là cội nguồn và khuôn mẫu cho mọi hiệp thông. Ngày hôm nay tất cả mọi người dấn bước trong đời thánh hiến cũng được mời gọi để hành trình trên đường hiệp thông.
Hiệp thông với cộng đoàn dòng tu
Người ta bảo: “Tu là cõi phúc”, nhưng “phúc” này không phải là thứ phúc “như không mà có hoặc có cũng như không”, mà ngược lại phải dựng xây chắt chiu kiếm tìm. Hạnh phúc đời tu là hạnh phúc xem ra có nhiều chỗ mong manh nghĩa là ngày nào mình cũng phải củng cố. Nếu mình biết gia cố đúng mức thì đó là cõi phúc thật, vì mối giao hảo giữa anh chị em với nhau luônlà một mối tình cần đến chữ tín. Một số người, tự nhiên ngay bước đầu gặp gỡ đã có thiện cảm; trong khi một số khác, phải đi từ hai đến ba bước mới hiểu được thiện ý. Do đó, cần khám phá những điểm đẹp nơi nhau để dễ dàng xây dựng hạnh phúc đời tu.
Trong bộ phim Hàn Quốc “Giầy Thủy Tinh” được chiếu trên HTV7 cách đây ít lâu, truyện cô bé mồ côi phải ở nhờ trong gia đình người khác, người ta gặp được một triết lý sống nhân hậu, qua lời của cô bé: “Chính khi buồn nhất, mình phải cười lên, không chỉ để vượt lên số phận mà còn để người xung quanh không phải lo lắng về mình”. Trong cộng đoàn cũng thế, nếu ai cũng biết vượt lên bản thân mình, nhất là biết rạng rỡ nụ cười để người khác không phải lo buồn, thì từ những sợi chỉ rất đơn giản mong manh ấy, mình đang góp phần dệt nên tấm áo hạnh phúc. Thánh Têrêsa Hài Đồng hình như cũng khai triển ý tưởng đơn sơ này trong con đường thơ ấu thiêng liêng của ngài. Rầu thúi ruột, nhưng ngài quyết tâm giữ nụ cười để khỏi làm buồn lòng Chúa, hay như chính kiểu diễn tả của ngài là “đánh lừa” không cho Chúa biết mình buồn.
Trong Huấn Thị “Xuất Phát Lại Từ Đức Kitô” có nói đến chữ “đối thoại”, thiết nghĩ cũng là một chữ phổ biến cho bất cứ ai, đó là chấp nhận những cái khác biệt của nhau. Đừng bao giờ đẩy cái “khác nhau” thành cái “khắc nhau”. Nếu ai cũng giống ai thì chẳng còn gì hấp dẫn, nhưng bởi vì ai cũng khác ai nên mới cần đến nhau. Chính trong cái “cần đến nhau” ấy, mình sẽ tự luyện và được hỗ trợ ơn thánh để tương trợ nhau. Có những cây tre biết nép mình trong bóng tối để cho những chồi măng mọc lên. Mặc dù nép mình như thế nhưng vẫn cảm thấy hạnh phúc khi biết cả cụm tre đang rạng rỡ hơn. Đó là nét đẹp của đời dâng hiến.
Bởi vì hiến là hiến những gì thiết yếu, và dâng là dâng những gì thiết thân, nên hiến dâng luôn luôn đụng chạm đến cái thiết thực của mình. Chìa khóa biến cái khác biệt thành cái hỗ trợ hệ tại việc chỉ nhìn những cái khác biệt theo nghĩa tích cực và bổ sung. Vì thế, hiệp thông trước hết là hiệp thông với chính cộng đoàn của mình. Đây là cách diễn tả hiệp thông đẹp nhất và cũng cụ thể nhất. Không chỉ là chuyện tử tế mà còn là chuyện thực tế.
2. Hiệp thông với địa bàn dâng hiến
Nếu hiệp thông với đời sống cộng đoàn là chìa khóa mở vào hạnh phúc hiến dâng, thì hiệp thông với địa bàn dâng hiến xung quanh sẽ là một dấu chỉ khả tín, cũng là một tiếng nói đẹp cho hạnh phúc đời tu. Năm 1948 khi Hội Đồng Đại Kết các Giáo Hội (Conseil Oecuménique des Eglises) triệu tập Đại Hội Thế Giới lần đầu tiên ở Amsterdam, người ta đã băn khoăn là có nhiều Giáo Hội Tin Lành cùng rao giảng về Chúa Kitô, nhưng lại không thể đồng hành bên nhau. Băn khoăn ấy xem ra vẫn còn. Chia rẽ là một gương mù và cản trở lớn nhất, thế nên “hiệp thông” đã trở thành lời gọi cấp bách hơn cả bao giờ. Chả thế mà trước lúc chia tay với các môn đệ để bước vào đường Thương khó, Chúa Giêsu đã khẩn khoản nài xin Chúa Cha “cho họ nên một để thế gian tin” (Ga 17, 21).
Địa bàn xung quanh có thể là các hội dòng cùng chia sẻ với hội dòng mình một thao thức tâm linh hay một trăn trở mục vụ. Người ta bảo thử hỏi Chúa xem có bao nhiêu dòng nữ, chắc Ngài cũng chịu thua luôn. Ngay tại các Giáo Phận Việt Nam, cách riêng tại Sài Gòn, nhất là trong những dịp lễ lớn tại Nhà thờ Đức Bà, phải thú nhận là vô cùng khó khăn nếu muốn gọi tên một hội dòng qua sắc màu tu phục. Trăm hoa đua nở. Đa dạng bội phần. Nhưng cũng chính vì tính đa dạng ấy nhiều khi đã dẫn tới tình trạng đa đoan, đa phức. Có lẽ hơn lúc nào hết, hình ảnh hai cô Matta và Maria lại trở về để nói lên sự cần thiết của những cách hiện diện khác nhau, cần đến nhau, làm phong phú cho nhau. Matta và Maria trong cách viết của tiếng Việt hôm nay đều giống nhau ở chỗ kết hợp bởi năm mẫu tự, trong đó có ba mẫu tự giống nhau (MAA) tượng trưng cho ba lời khuyên Phúc Âm dòng nào cũng giống dòng nào, nhưng lại có hai mẫu tự khác nhau (TT, RI) biểu trưng cho những đặc sủng mỗi dòng có riêng cho mình. Hiểu nhau ở những chỗ tương đồng, và thương nhau ở những điểm khác biệt đôïc đáo. Đó là hiệp thông.
Địa bàn xung quanh cũng có thể là nơi mình được sai đi. Được sai đi là chấp nhận có ai đó đã sai mình lên đường và mình phải lệ thuộc vào đó mới đẹp được dáng đứng hiến dâng. Ai đó có thể là Bề trên, là hội dòng, nên nơi mà mình được sai đến và những người ở nơi đó sẽ là gia đình mình, sẽ là người nhà mình và sẽ là niềm hạnh phúc của tâm hồn mình.
Đối với những ai đã hết mình sống với điều này sẽ thấy rõ. Khi ta ở, ta vẫn sống dung dị như tất cả mọi người, dầu có phải “khoái ăn sang, sáng ăn khoai”, nhưng khi được đổi đến chỗ khác ta mới thấy quyến luyến, nghe sao “đất bỗng hóa tâm hồn”. Đất không còn là địa chỉ hộ khẩu thường trú nữa mà đã trở nên phần đời mãi nhớ như một cõi đi về. Người trẻ sẽ nghĩ về nơi mình đã đến trong sứ vụ như một kinh nghiệm tích cực, còn người trọng tuổi hơn sẽ nhớ về những tháng năm cống hiến ấy như những chất liệu đích thực của kinh nguyện sớm hôm.
Như thế, hết mình với địa bàn mà mình được sai đến cũng chính là hết tình trong cách sống mối hiệp thông.
3. Hiệp thông với Đấng Bản Quyền
“Bản quyền” được hiểu là Giám Mục Giáo Phận. Dù tu sĩ không phải khấn với Đấng Bản Quyền, mà chỉ khấn dưới sự chứng kiến của Đấng Bản Quyền thôi, nhưng cũng làm sáng lên ýnghĩa Giáo Hội học trong ơn gọi đời thánh hiến. Dù mỗi hội dòng đã tìm được con đường riêng trong nhịp sống thánh hiến, với đặc sủng ơn gọi họ đã lựa chọn, nhưng vẫn cứ là thành viên của một Hội lớn hơn tức là Hội Thánh.
Trong Huấn thị “Xuất Phát Lại Từ Đức Kitô”, Đức Giáo Hoàng mời gọi mỗi người hãy định vị mình trong cái tổng thể lớn hơn này, đó là đại gia đình Giáo Hội để nhận ra đoàn sủng đã trở nên đặc sủng của dòng mình. Ơn gọi đời thánh hiến là như thế này: phải là tinh thần sống hơn là cụm dân cư. Khi mình chỉ co cụm lại trong sinh hoạt cộng đoàn mà quên đi nhịp sống mục vụ của Giáo Phận nơi mình có cơ sở, thì đó là dấu hiệu thiếu hiệp thông. Khi mình trở thành một thứ ốc đảo nguyên tuyền trong sáng “sạch và xanh” đối nghịch hẳn với sự lam lũ của giáo xứ lao động nông nghiệp quanh năm “bán mặt cho đất bán lưng cho trời”, thì đó lại là dấu hiệu yếu hiệp thông. Nhưng khi tinh thần tự sản tự tiêu, tự chủ tự đủ lên cao đến nỗi chẳng cần đến ai ngoài Chúa, thì quả thật hiệp thông đã trở nên khác lắm. Chính vì cái khác ấy mà có mục nhắc nhở “Hiệp thông với Giám Mục” (số 32).
Đối với Việt Nam chúng ta, tính hiệp thông nói chung vẫn rõ nét và vẫn dễ đọc nơi nhịp sống của ơn gọi đời thánh hiến. Tuy nhiên như “mưa giông rải rác một vài nơi”, đã thấy có những dấu hiệu đáng ngại. Có thể xem là dấu hiệu đáng ngại khi một dòng có nhà trong một giáo phận mà không chấp hành đầy đủ quy định mục vụ của giáo phận. Cũng có thể xem là dấu hiệu đáng ngại nữa khi một đặc ân mục vụ đáng lẽ chỉ dành cho những trường hợp giới hạn của dòng, lại được áp dụng phổ biến như thể luật chung. Còn nhiều nữa. Nhưng quan trọng là ghi nhận: hiệp thông trước hết là hiệp thông với Giáo Hội địa phương là giáo phận và cụ thể hơn là Đấng Bản Quyền Giáo Phận ấy. “Ở đâu có Giám Mục, ở đấy có Giáo Hội”.
Tóm lại, hiệp thông để cổ võ linh đạo “như thể thương thân”. Ý thức mình là một phần trong Thân Mình của Chúa Kitô, nên hương nhau: thương anh chị em nhà, thương địa bàn xung quanh, thương đến nhịp sống chung của giáo phận. Đây là những thành viên của gia đình mình.
“Cái nhà là nhà của ta”, ở đó, mình có thể chung vui khi thành công, cảm thông khi thất bại, đi lại khi cần và luôn gần ngay cả trong những khi cùng cực nhất. Chia sẻ với nhau được. Từ trái tim đến trái tim. Hội Thánh là như thế và một khi đã trở thành linh đạo tức là trở thành con đường tâm linh, con đường được hướng dẫn bởi Chúa Thánh Thần, thì sẽ trở thành mạch sống của mình.
Nếu trước khi quyết định điều gì mà nghĩ đến tinh thần hiệp thông thì đời sống sẽ hạnh phúc lắm và xem ra không gì có thể đe dọa niềm hạnh phúc này được.
III. SẴN SÀNG CHÈO RA CHỖ NƯỚC SÂU
Đây là hướng nhìn Truyền Giáo Học. Hiệp thông là kết quả của truyền giáo, và truyền giáo xét cho cùng là để hiệp thông. Khi mình hiệp thông với Chúa, với anh chị em là để người khác tin; và khi truyền giáo cho người khác, mình lại dẫn họ đến với hiệp thông. “Hiệp thông để truyền giáo và truyền giáo để hiệp thông”.
Một điều lưu ý là mặc dầu ở đây Chúa bảo các môn đệ chèo ra chỗ nước sâu để thả lưới (Lc 5, 4), nhưng trong một lần khác Người còn bảo các ông phải thả lưới bên phải của con thuyền. Đại dương mênh mông, con thuyền bé nhỏ, việc thả lưới bên trái hay bên phải thì có khác gì nhau, nhưng Chúa bảo phải thả lưới ở bên mạn phải con thuyền kìa. Chỉ khi nào buông lưới ở bên phải mới bắt được cá và cá không phải là một bầy cá nhỏ nhưng là rất nhiều cá lớn. Đó là chìa khóa để hiểu khi thả lưới xuống chỗ nước sâu.
Và ở đây, ta bỗng hiểu lý do tại sao Huấn Thị “Xuất Phát Lại Từ Đức Kitô” lại nhấn mạnh đến chữ “sẵn sàng”. Sẵn sàng chèo ra chỗ nước sâu bằng cách nào?
1. Rời xa bến bờ yên ả
Để chèo ra chỗ nước sâu người ta phải chấp nhận rời xa bến bờ bình an, ấm êm của một đời sống có những tập quán đủ đầy. Chỉ một thói quen nhỏ thôi cũng là thành phần nếp sống của mình, huống chi những tiện nghi hiện tại. Ngày xưa khi kinh tế còn khó khăn, “ăn bữa nay lo bữa mai” thì chẳng nói làm gì; nhưng ngày nay khi cuộc sống đã khá lên, dân chúng có của ăn của để, và nhà tu cũng “nước lên thuyền lên” sửa nhà sửa cửa trang bị trong ngoài đầy đủ thì vấn đề khó nghèo và sự dính bén của cải lại phải đặt ra. Mọi tiện nghi đời sống đều là phương tiện giúp ta phục vụ tốt hơn. Không ai chối cãi. Nhưng khi phương tiện đó trở thành dấu hiệu phản chứng so với lời khấn khó nghèo, thì lúc đó người ta phải làm một cuộc lựa chọn, biết rời xa những bến bờ ấm êm để vào sa mạc tâm hồn mà tìm gặp tình yêu đích thực cũng là lẽ sống hiến dâng.
Bến bờ yên ả của lòng mình là những tập quán “tìm kiếm hiệu năng và duy hoạt động”, trong khi lại xem nhẹ việc cầu nguyện. Không cầu nguyện không có sức sống. Chiếc cầu đẹp nhất là chiếc cầu làm bằng kinh nguyện: cầu nguyện. Ai cũng biết điều này rất rõ. Ngày hôm nay, có người nghĩ Giáo Hội chỉ nhắm vào hoạt động, làm như dòng nào hoạt động nhiều và để lại dấu ấn nhiều sẽ đóng góp nhiều cho Giáo Hội địa phương. Nhưng Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II nói đây là một điểm nguy hiểm của thời đại. Ra khơi hoặc chèo ra chỗ nước sâu là biết ra khỏi những ý nghĩ thiên về hoạt động ấy.
“Đặt những dự phóng cá nhân cao hơn dự phóng của cộng đoàn” lại là một thứ bến nước khác phải rời xa. Khi cam kết sống trong hội dòng, mình vẫn còn mang thân xác của đời. Xóa đi không được. Nhưng phải mang thân xác ấy như thế nào, đó là cả một nghệ thuật trong đời dâng hiến. Để cho dự phóng cá nhân cao hơn lời mời gọi của cộng đoàn, đó là đi ngược chiều. Đặt dự phóng cá nhân ở dưới dự phóng chung, đó mới là phục vụ, là xóa mình, là khiêm tốn, là vâng phục, là dâng, là hiến.
2. Lướt đi bằng đôi mái chèo: truyền thống và sáng tạo
Huấn thị nói đến “một sự trung thành mang tính sáng tạo” trong số 18. Trung thành với ơn gọi, trung thành với tôn ý của Đấng Sáng Lập, nhưng đồng thời cũng phải hợp với tính sáng tạo của địa phương, của thời đại. Đó là hai bước chân của nhà truyền giáo, của người sẵn sàng không phải chỉ dấn thân nhưng còn biết hiến thân để phục vụ cho ơn gọi mình đã lựa chọn.
Nếu ngày xưa Giáo Hội lo rửa tội cho những người đã hoán cải để họ trở thành con cái Thiên Chúa, thì ngày nay xem ra Giáo Hội phải làm ngược lại, là lo hoán cải những người đã được rửa tội từ lâu rồi, nhưng không sống đạo, để họ tìm lại vị thế con cái Thiên Chúa sáng đẹp hơn. Từ ngữ “tái truyền giáo” mà Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II muốn nói ở đây mang ba nét mới: – một nỗ lực mới – một ngôn ngữ mới – một địa chỉ mới, như chiếc kiềng ba chân. Lịch sử Giáo Hội còn ghi lại nhiều đợt truyền giáo khác nhau, mỗi đợt đều là kết hợp nỗ lực chung của toàn thể Dân Chúa: các thừa sai bước ra tiền tuyến; hậu phương yểm trợ bằng lời kinh và bằng hy sinh. Nay cũng cần một nỗ lực mới như thế. Ngôn ngữ truyền giáo xưa kia là cho và nhận giữa nhà thừa sai và Dân Ngoại; ngôn ngữ thời nay là hợp tác song phương, truyền giáo bằng tầm ảnh hưởng, giới nào đem Chúa cho giới nấy, để cùng chung xây “văn minh tình thương”, phát huy “văn hóa sự sống”. Nếu phương cách rao giảng Tin Mừng truyền thống là trực tiếp thì ngày nay có thể sẽ linh động hơn thông qua con người, bởi lẽ “con người là con đường của Giáo Hội”.
Nếu truyền thống ơn gọi mỗi hội dòng vốn cần đến một sự trung thành mang tính sáng tạo, thì đây là lúc mở ra một nhãn giới lớn hơn, rộng hơn, đẹp hơn để giúp ta phục vụ Thiên Chúa và Giáo Hội cũng như ơn gọi hội dòng mình một cách hạnh phúc hơn.
3. Thả lưới chỗ nước sâu của thời đại
Ở chỗ khác trong Huấn thị, Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II nhắc tới “thiên tài nữ tính” (số 9). Bao năm qua tại Ấn Độ đã trổi lên những vị anh hùng, nhưng chưa có ai dám táo bạo chèo ra chỗ nước sâu như Mẹ Têrêsa Calcutta. Nơi Mẹ, trái tim người nữ đã chứng minh được đặc tính “tái truyền giáo” của mình. Và nếu như Huấn Thị nói đến “thiên tài giới nữ” ở đây, thì có lẽ là vì Giáo Hội vẫn luôn trân trọng tất cả những gì Thánh Thần thổi đến trong nhịp sống hôm qua và cách riêng thời nay vốn được xem là thời đại của giới nữ. Giới nữ thường nhạy cảm hơn, mà trái tim càng nhạy cảm càng cung cấp cho Giáo Hội những sáng kiến truyền giáo phù hợp hơn với thời đại.
Cũng trong Huấn thị, người ta còn thấy chữ “nghèo” (số 36) với những nhấn nhá đặc biệt. Vẫn biết rằng từ xa xưa Giáo Hội đã nói tới chữ “nghèo” với nhiều trân trọng. Thánh Laurensô bán hết tài sản của Giáo Hội Rôma lúc bấy giờ để phân phát cho người nghèo, rồi dẫn họ đến trước hoàng đế và nói “Đây là tài sản của Giáo Hội”. Ngày nay, Thần học Tây phương nói rằng “người nghèo là bí tích của Thiên Chúa”, vì thông qua người nghèo người ta nhận ra Thiên Chúa đang hiện diện ở giữa mình. Bí tích mà lại lem luốc như thế thì thật khó chấp nhận, nhưng nó là lý tưởng để vươn tới. Đức Giáo Hoàng đề nghị đón nhận thời đại như một ân ban và ân ban ấy đang thể hiện nơi những người nghèo. Nghèo về mọi mặt: nghèo về kinh tế, tri thức, nghèo về tôn giáo, nhân cách, nghèo hạnh phúc, nghèo tình thương… Nghèo không bao giờ đến một mình nhưng luôn luôn là một gia đình đi dắt dây dắt chùm với nhau. Nghèo thường lem luốc nên dễ bị gạt ra bên ngoài. Nghèo cũng là một gánh nặng vì thế nhiều khi ngay cả những người có tôn giáo cũng ngại chẳng muốn đụng đến làm gì. Chỉ tổ mệt!
Vậy ở chỗ nước sâu này, phải thả lưới thế nào? Tất nhiên là cung cấp cho họ Tin Mừng. Nhưng là Tin Mừng giải thoát ngay cả về mặt kinh tế để họ có cơm ăn áo mặc và cuộc sống ổn định, rồi từ đó phục vụ sự sống cho họ, bằng cách đẩy lùi và tẩy trừ “văn hóa sự chết”, vốn là kẻ thù không đội trời chung với “văn minh tình thương” (“văn hóa sự chết” / DEATH: Divorce, Euthanasie, Abortion, Total Birth Control, Homosexual union). Sẵn sàng gieo mình vào chỗ nước sâu như thế là chứng minh được rằng mình là con người nhiệt tâm việc đạo, thông thạo việc đời và tuyệt vời trong công trình bác ái.
Kết luận
Đó là ba chữ S trong đời dâng hiến đọc được trong Huấn thị “Xuất Phát Lại Từ Đức Kitô”: Say mê Đức Kitô – Sống đời hiệp thông – Sẵn sàng chèo ra chỗ nước sâu. Ba chữ S tất nhiên cũng âm vang trong nhịp sống của Giáo Hội cho mọi giới, nhưng cách riêng cho ai đi theo con đường thánh hiến. Con đường ấy, dù hoa mỹ ngoằn ngoèo như chữ S, vẫn là con đường Thiên Chúa dẫn đi trong niềm hạnh phúc làm con người và làm con Chúa giữa lòng thế giới hôm nay. Cũng nên ghi nhận: trong ba chữ S thì chữ S đầu tiên là quan trọng có vai trò quyết định tất cả. Hãy bỏ neo đời sống nơi chữ “Say mê Đức Kitô”, ta sẽ biết mình phải làm gì hoặc chèo đi đâu cho đẹp ý Chúa, cho vừa lòng Người. Và trong ý nghĩa này, đời tu đích thực là cõi phúc.
Trên trang báo Tuổi Trẻ, khi người ta phỏng vấn mấy bà nội trợ “Tại sao lại chọn dầu gội đầu Sunsilk?” hầu hết các bà đều trả lời là “muốn được trúng thưởng”. Ngày nay mọi cái thường có khuyến mãi và đó là chuyện bình thường của cuộc sống. Nhưng nếu mỗi người đều được đặt câu hỏi “Tại sao lại chọn Đức Kitô?” có lẽ mình sẽ không dám trả lời một cách thẳng thừng là “muốn được trúng thưởng” đâu, cho dẫu hậu ý vẫn là hy vọng được chia sẻ hạnh phúc trong sự sống đời đời. Ở đây câu trả lời nghiêm túc sẽ là: “Tôi chọn Đức Kitô vì chính Người. Thế thôi!”.

Những Khái Niệm Căn Bản Về Ơn Gọi


Những Khái Niệm Căn Bản Về Ơn Gọi

Những Khái Niệm Căn Bản Về Ơn Gọi
Ơn Gọi là gì?
Ðể trả lời cho vấn đề, trước hết, chúng ta cần nói qua khái niệm về hai chữ “Ơn gọi”.
Ơn gọi là một tiếng gọi yêu thương của Chúa cho con người từ muôn thuở. Có một bài thánh ca chúng ta thường hát: “Từ muôn đời Chúa đã yêu con, và còn yêu con mãi mãi…” Ðã gọi là tiếng gọi từ muôn thuở, chúng ta không có thể nói rằng, Chúa gọi tôi cách đây mấy năm, hay Chúa vừa gọi tôi, hay tôi chờ xem Chúa có gọi tôi hay không…, nhưng phải nói rằng, Nếu Ngài gọi, Ngài đã gọi tôi từ lâu rồi, từ khi tôi chưa được sinh ra, từ khi chưa có loài người sống trên mặt đất, từ khi chưa có sao trời, rừng sâu và biển cả… Tiếng gọi của Ngài dành cho tôi đã phát xuất từ chính Ngài, vang vọng vào không gian, vào vũ trụ vô hình bằng những làn sóng mắt thường không trông thấy, và Ngài mong một ngày nào đó tôi nghe được tiếng gọi đó.
ƠN GỌI THỨ NHẤT: LÀM CON THIÊN CHÚA
Thời điểm ơn gọi thứ nhất đến với mỗi người chúng ta có thể mỗi khác: người được rửa tội từ khi mới sinh, người lúc lên mười, hai mươi, có người mãi đến lúc về chiều mới lần đầu tiên gặp được Chúa… Nhưng chung quy, tất cả chúng ta, những người Kitô hữu đều có ơn gọi này ơn gọi làm con Thiên Chúa. Ðây là một ơn Chúa ban cho chúng ta cách nhưng không, là một món quà vô giá mà không phải ai cũng có – Chúa ban cho ai, người ấy được. Người ta có thể tốn cả triệu đôla mà chưa chắc đã mua được món quà này. Ðây chính là ơn gọi thứ nhất trong cuộc đời của một con người, chúng ta gọi là ơn gọi căn bản và phổ quát, căn bản vì là ơn gọi đầu tiên, phổ quát vì chung cho mọi người Kitô hữu.
Qua phép Rửa, Thiên Chúa thông ban ơn cứu độ cho chúng ta trong Ðức Giêsu Kitô. Việc gia đình ông Noê được cứu thoát khỏi nước lụt đại hồng thủy được kể lại trong Cựu Ước là hình ảnh tiên báo cho Bí Tích Rửa Tội sau này trong thời Tân Ước. Trong Phép Thanh Tẩy, Thiên Chúa giơ tay Ngài ra để cứu thoát chúng ta khỏi những trận lụt của khốn khổ, khỏi sự nhận chìm trong những vũng bùn sâu của tội lỗi. Hơn nữa, sau khi Chúa cứu thoát ông Noê khỏi bị lụt, Ngài đã tạo nên chiếc cầu vồng như dấu chỉ của Tình yêu và lòng thương xót của Ngài. Cầu vồng là một dấu hiệu cho biết rằng, lụt lội và nguy hiểm đã qua rồi. PHÉP RỬA TỘI là CHIẾC CẦU VỒNG CỦA NGƯỜI KITÔ HỮU. Ngay cả sau khi chúng ta lãnh nhận Bí tích Rửa tội, chúng ta sẽ vẫn còn thấy những đám mây ác thần vây phủ chúng ta; chúng ta sẽ vẫn còn thấy những tiếng sấm gầm vọng từ xa của thù địch chỉ muốn tiêu diệt chúng ta. Nhưng Bí tích Rửa tội luôn làm cho chúng ta ý thức rằng, chúng ta không phải sợ hãi những thứ sấm sét bão tố đó đang đe dọa cuộc sống chúng ta. Bí tích Rửa tội vẫn luôn luôn là dấu chỉ của lòng thương xót và Tình yêu Thiên Chúa, qua đó, Ngài không cho phép nước lụt của thù địch và của sự dữ tiêu diệt chúng ta.
Trong Ðêm Phục sinh, chúng ta được mời gọi để lập lại lời hứa Rửa tội. Vấn đề của chúng ta là, chúng ta có ý thức những gì chúng ta tuyên xưng trong lời hứa đó không? Chúng ta cần nhớ lại chúng ta đã hứa những gì qua cha mẹ đỡ đầu, hoặc do chính chúng ta hứa nếu chúng ta chịu phép rửa tội khi đã khôn lớn? Thánh Phêrô cho rằng, điểm cốt yếu trong lời hứa Rửa tội đó là “một lương tâm thiện hảo” (I Pr 3:21). Bí tích Rửa tội là một khế ước, một thỏa thuận giữa chúng ta và Thiên Chúa: Thiên Chúa hứa ban cho chúng ta Tình yêu và lòng thương xót của Ngài, và chúng ta hứa sẽ sống trung thành với Ngài. Ngài trở thành Chúa chúng ta và chúng ta trở thành dân của Ngài.
Việc lập lại lời hứa rửa tội phải được tiếp nối cách sống động trong đời sống hằng ngày của chúng ta, nghĩa là chúng ta phải luôn nghiêm chỉnh ý thức sống ơn gọi thứ nhất này. Sau ơn gọi thứ nhất này, chúng ta có bổn phận đi tìm thánh ý Chúa cho ơn gọi thứ hai của mình, ơn gọi có “ơn làm con Thiên Chúa” làm nền tảng.
ƠN GỌI THỨ HAI: ƠN GỌI TU TRÌ HOẶC ƠN GỌI HÔN NHÂN
Trong ơn gọi thứ nhất, chúng ta trở thành người con Thiên Chúa và người môn đệ của Chúa Giêsu. Với tư cách là môn đệ, chúng ta mãi mãi được mời gọi bước theo Thầy Chí Thánh của mình. Những lời mời gọi của Chúa Giêsu luôn theo đuổi cuộc đời chúng ta: “Ai muốn theo Ta, hãy từ bỏ mình, vác thập giá mà theo Ta”.
Vì thế, dù chúng ta chịu phép rửa tội vào lứa tuổi nào chăng nữa, đức tin vẫn luôn đòi hỏi chúng ta phải mãi mãi trung thành với lời chúng ta hứa khi chịu phép rửa tội: “Từ bỏ tội lỗi, từ bỏ những quyến rũ bất chính, từ bỏ ma quỷ; Tin Thiên Chúa là Cha, là Ðấng tạo thành trời đất, tin Ðức Giêsu Kitô, Con Một Thiên Chúa, Chúa chúng ta, sinh bởi Ðức Trinh Nữ Maria, đã chịu khổ hình và mai táng, đã sống lại từ cõi chết và đang ngự bên hữu Chúa Cha, tin kính Ðức Chúa Thánh Thần, tin Hội Thánh Công giáo, tin các thánh thông công, tin phép tha tội, tin xác sống lại và sự sống đời đời…”
Sau khi nhận bí tích đầu tiên đó, chúng ta tiếp tục lãnh nhận các bí tích khác để giúp chúng ta kiên trì và thăng tiến trong đời sống ơn gọi căn bản của mình. Ðặc biệt, sau ơn gọi thứ nhất đó, Chúa còn mời gọi chúng ta bước theo Ngài trong ơn gọi thứ hai trên hành trình đức tin: Hoặc là ơn gọi đời sống hôn nhân, hoặc là ơn gọi sống đời sống tu trì.
Không sớm thì muộn, ai trong chúng ta cũng đều phải chọn lựa một trong hai ơn gọi đó: Ði tu hay lập gia đình?
“ÐÀN ÔNG Ở MỘT MÌNH KHÔNG TỐT”:
gia dinhÐây là câu nói trong sách Sáng thế ký, cuốn đầu tiên của Cựu Ước, đoạn 2 câu 18 (Tiếng Anh: “It is not right that the man should be alone”).
Câu Lời Chúa này gợi cho chúng ta hai vấn đề:
1) Từ khởi nguyên, Chúa tỏ ý rằng, Ngài muốn con người sống có đôi. Nhiều người dùng câu nói Kinh Thánh này để biện luận khi họ không muốn đi tu – “Ðàn ông ở một mình không tốt” như vậy phải lấy vợ… – Cũng có lý, nhưng cần phải hiểu rằng, Chúa, nhất là trong Tân Ước, đồng thời cũng mời gọi chúng ta bước một bước xa hơn nữa trên con đường hẹp của Tin Mừng, để sống hiến dâng trọn vẹn cho Thiên Chúa bằng một tình yêu không chia sẻ. “Ðức Giêsu kêu gọi một số người đi theo Ngài cách gần gũi hơn để Giáo Hội trở thành một dấu hiệu hùng hồn của ơn vinh thắng” (Trích từ Sứ Ðiệp được truyền đi từ Thượng Hội Ðồng Giám Mục, tháng 10/94 tại Roma).
2) Ðàn bà ở một mình có tốt không? Có người nói: Ðàn ông ở một mình không tốt, đàn bà ở một mình thì tốt. Không biết chắc chắn ý Chúa thế nào đối với người phụ nữ, nhưng tôi thiển nghĩ, Nếu “đàn ông ở một mình không tốt”, thì đàn bà ở một mình càng không tốt hơn!… – Dường như con rắn đã khôn ngoan tìm lúc không có người nào bên cạnh người phụ nữ để cám dỗ…
Tắt một lời, dù đồng ý rằng sống độc thân ở giữa đời cũng là một ơn gọi, nhưng cách chung, dựa theo Lời Chúa, tôi không “recommend” các bạn trẻ, nam cũng như nữ, sống độc thân giữa đời.
Như vậy, chúng ta tạm để qua một bên cái “choice” thứ ba này.
HAI ƠN GỌI, HAI BẬC SỐNG
Như vừa nói trên, chúng ta sẽ phải chọn lựa một trong hai ơn gọi: một là đi tu, hai là lập gia đình, chứ không ai “bắt cá hai tay” được cả! Ðó là người sống tích cực. Hai ơn gọi này dẫn đến hai bậc sống khác nhau: bậc sống tu trì và bậc sống gia đình.
Hai bậc sống này có những điểm giống nhau, như: họ đều phải nỗ lực để nên thánh, xây dựng Giáo Hội, truyền giáo… Nhưng cũng có những điểm khác nhau, như: đời sống gia đình lo việc truyền sinh về thể lý, mặc dù có góp phần về đời sống tinh thần, còn đời sống tu trì chuyên lo việc truyền sinh về đời sống thiêng liêng; Mọi người đều thuộc về dân Thiên Chúa, nhưng các tu sĩ, linh mục, nhất là Giám mục là những người ở “cấp lãnh đạo” dân của Người, mặc dù họ cũng là một phần tử trong dân của Người; tình yêu trong đời sống gia đình tuyệt đẹp, nhưng trong đời sống tu trì, xét theo bản chất còn đẹp hơn nhiều!… Mong các bạn khôn ngoan chọn lựa!…
Chúng ta sẽ bàn về những điểm tương dị của hai ơn gọi này ở hai bài chia sẻ khác.
YẾU TỐ TÌNH YÊU TRONG MỌI ƠN GỌI
Như chúng ta vừa nói ở trên, có hai ơn gọi, vấn đề là chúng ta có thực sự sống ơn gọi của mình hay không. Ðể hiểu và sống ơn gọi, chúng ta cần phải hiểu yếu tố quan trọng của ơn gọi: TÌNH YÊU.
Trong phần này, tôi xin nhường lời cho Mẹ Têrêxa Calcutta. Mẹ nói:
“Một cách đơn giản, ơn gọi là một tiếng gọi để tôi hoàn toàn lệ thuộc vào Ðức Kitô, với ý thức rằng, không gì có thể tách tôi ra khỏi Tình yêu của Người.
“Ơn gọi là một lời mời gọi để sống trong tình yêu với Thiên Chúa và để minh chứng tình yêu đó.
“Tôi yêu mến Chúa thế nào? Tôi minh chứng tình yêu của tôi cho Thiên Chúa thế nào?
“Thưa, bằng cách làm thật tốt đẹp công việc được trao phó, bằng cách thực hiện một cách đơn sơ những gì Chúa ủy thác cho tôi dưới bất kỳ dạng thức nào.
“Chẳng hạn như cuộc sống của các chị em đã tuyên khấn – đúng như trên thực tế, họ đã trở thành hiền thê của Chúa Giêsu chịu đóng đinh – đó là ơn gọi của họ: yêu Chúa Giêsu bằng một tình yêu không chia sẻ, qua đức khiết tịnh, qua sự tự ý sống thanh bần, qua việc hoàn toàn từ bỏ mình trong đức vâng phục, và qua việc tự ý hết lòng phục vụ những người nghèo nhất của những người nghèo. Họ minh chứng tình yêu của họ đối với Thiên Chúa bằng việc đặt tình yêu đó trong những hành vi sinh động.
“Như thế, dù bạn được trao phó cho bất kỳ công việc gì, với tư cách một tu sĩ, hay một giáo dân – đó là phương tiện cho bạn để bạn dành tình yêu của bạn cho Thiên Chúa trong một hành vi sinh động, trong một hành vi của tình yêu… Bất kỳ khi nào bạn mỉm cười với một người nào đó, nụ cười đó là một hành vi của tình yêu, là một món quà cho người đó, một cái gì thật đẹp…
“Do đó, nếu tôi biết làm thế nào để yêu mến Ðức Kitô, nếu tôi muốn biết tôi có thực sự ở trong tình yêu với Thiên Chúa không, tôi chỉ cần nhìn xem tôi đã làm công việc Ngài đã trao phó cho tôi như thế nào – Có bao nhiêu tình yêu tôi đã đặt vào trong công việc của tôi.
“Bạn thấy đó, Vấn đề của ơn không hệ tại ở chính công việc – ơn gọi của chúng ta là trọn thuộc về Ðức Giêsu với ý thức rằng, không gì có thể tách lìa chúng ta ra khỏi tình yêu của Người.
“Ơn gọi không phải là những gì chúng ta đang làm, hay chúng ta làm được bao nhiêu việc, mà là bao nhiêu tình yêu tôi đã đặt vào công việc tôi đã được trao phó.
“Những gì bạn đang làm, có thể tôi không làm được… Những gì tôi đang làm, có thể bạn không làm được, nhưng tất cả chúng ta đều có thể làm cái gì đó thật đẹp cho Thiên Chúa”. (Trích dịch từ “The best Gift is Love / Meditations by Mother Teresa”, tr.113-116).

XIN CHO CÁCTU SĨ ĐƯƠC ƠN TRUNG THÀNH TRONG ĐỜI TU




Xin cho các tu sĩ được ơn trung thành trong đời tu

Xin cho các tu sĩ được ơn trung thành trong đời tu

Nhìn từ bên ngoài, người ta luôn thấy đời tu rất đẹp, hệt như một Thiên Đường tại thế. Suốt ngày cất cao giọng hát ngợi khen Chúa, vui vẻ với những công việc tầm thường như việc cắt cỏ trồng rau, không một chút bon chen với cuộc đời, không phải lắng lo chuyện gia đình, con cái, không ganh đua với danh vọng cao sang. Nhìn những vị tu sĩ cao niên đắc đạo, miêng lúc nào cũng nở những nụ cười tươi, không quần áo sang trọng, không vàng bạc trữ kho, nhưng tâm hồn lúc nào cũng bình yêu thư thái, lối hành xử luôn chậm rãi khoan thai, không hờn ai, không trách cứ, đó quả thực là điều nhiều người ước mong. Rồi những tấm gương hy sinh cả một đời giúp đỡ những người cơ nhỡ, người nghèo, hay những ai bị cuộc đời ruồng rẫy, họ làm việc như thể đó là niềm vui, cho đi mà chẳng mong gì đền đáp, bao lụy phiền của nhân tình thế thái chẳng thể bám víu trái tim họ. Đời tu quả là tươi đẹp, là dấu chỉ của Nước Chúa hiện diện ở trần gian.

Thế nhưng, chỉ có những ai sống trong đời tu mới có thể hiểu rõ được sống đời tu thật không dễ tí nào. Đời tu tuy đẹp đấy, nhưng để có thể sống trọn vẹn lý tưởng này, chẳng con người nào có thể tự sức mình mà sống được. Ấy là bởi vì sống đời tu là sống giữa nghịch lý vô cùng căng thẳng của kiếp người. 

Người đi tu là người sống giữa thế gian nhưng không được để mình bị thế gian đụng đến. Họ người có đôi chân chạm đất nhưng đầu thì hướng thẳng về trời cao. Họ phải sống trong cuộc đời nhưng lại bị xem là người ở cõi khác. Họ chọn đời hiến dâng không phải để trốn đời, hận đời, nhưng là để vào đời và yêu mến đời nhiều hơn. Người đi tu cũng muốn ăn ngon, mặc đẹp như ai kia, nhưng phải chọn lấy cho mình phần kém nhất. Họ phải trải rộng tình thương của mình cho người khác, nhưng lại không được để một người nào đó được phép yêu mình. Họ phải yêu người nhưng không được giữ lại riêng cho mình một ai. Họ yêu nhưng không được nắm giữ. 

Ai cũng mong muốn mình có một bến đỗ dừng chân, nơi một mái ấm nhỏ, có tiếng cười của con thơ. Nhưng người đi tu thì phải vượt trên mong muốn ấy. Họ có đôi bàn chân không bao giờ ngừng bước. Họ như ngọn gió ngao du khắp núi rừng, băng qua biển khơi. Chẳng nơi đâu là nhà, chẳng nơi đâu là xa lạ. Nơi họ đặt chân đến là quê hương, là cuộc sống của họ… Họ không được đậu neo ở điểm dừng nào, không được để lòng lưu luyến ai hay bất cứ nơi đâu, nhưng phải thanh thoát và tự do với mọi sự. Nơi con tim của người đi tu chất chứa đầy những tâm tư sâu kín. Họ có yêu ai không, không ai biết; họ có ghét ai không, chẳng ai hay; họ có nóng giận, buồn phiền với ai không, không ai tỏ. Dù bên trong có thế nào, điều mà họ thể hiện ra bên ngoài phải là niềm hạnh phúc, phải là niềm vui, phải là dấu chỉ của Nước Trời.

Đó là lý tưởng đẹp, nhưng cũng là điều không phải dễ mà sống được. Sống giữa căng thẳng luôn làm người ta như muốn xé nát con người mình làm đôi. Làm sao giữa dòng đời vạn biến, tâm mình vẫn không động, vẫn yên vui? Làm sao giữa một thế giới đang hô hào chuyện hưởng thụ vật chất, sống trụy lạc và tự do cá nhân, mình lại chủ trương chọn khó nghèo, khiết tịnh và vâng phục người khác? Có những tu sĩ đã vị những xu hướng và thúc bách cá nhân đưa đẩy, lại thiếu đi sự kết hiệp với Chúa nên đã dần dần đánh mất đi lý tưởng tuyệt vời và cao quý của đời tu.

Trong giờ phút này, chúng ta hãy dành ít phút cầu nguyện cho những người đã hiến dâng cuộc đời cho Chúa:

Trước hết, chúng ta hãy cầu nguyện cho những ai đang đứng trước chọn lựa giữa đời tu và đời sống bình thường. Xin cho họ được ơn soi sáng để có thể bình tâm chọn lựa điều nào hợp với thánh ý Chúa cho cuộc đời mình.

Chúng ta cũng xin Chúa đến kề bên và nâng đỡ những tu sĩ nào đang bị ngả nghiêng theo cơn gió cuộc đời. Xin cho họ biết chạy đến với Chúa khi tâm hồn có chút gợn sóng nhân gian để được ủi an và thêm sức, chứ đừng tìm bù trừ nơi những niềm vui thế tục, nơi những vật chất, tiện nghi. Xin Chúa giúp cho các tu sĩ biết tìm hạnh phúc nơi những hy sinh và thập giá, chứ không phải nơi bạc tiền và danh vọng.

Xin cho các tu sĩ nhận ra rằng biết bao linh hồn đang cần họ đi tới và chia sẻ; có rất nhiều người đang nhìn đến đời sống phục vụ vô vị lợi của họ mà mà tạ ơn Chúa và nhờ đó có thêm nghị lực đứng lên làm lại cuộc đời. Xin cho họ đừng vì ích kỷ cá nhân và quên đi lời gọi mời cao quý Chúa đã dành cho họ.

Xin cho các tu sĩ, mỗi ngày nên giống Đức Giêsu Kitô vác thập giá hơn.

Ánh sáng định hướng cuộc đời chúng ta là gì?

Ánh sáng định hướng cuộc đời chúng ta là gì?


ĐHY Nguyễn Văn Thuận
Trong thiên niên kỷ thứ ba,
chúng ta theo ánh sáng của Hy vọng
Ánh sáng định hướng đời tôi là Hy vọng. Lời kinh phụng vụ hát: Kính chào Thánh giá là Hy vọng “độc nhất của chúng tôi” (o crux ave spes unica). Thánh giá đem lại Hy vọng vì Chúa Giêsu chịu đóng đinh vào đó để cứu rỗi nhân loại, người lại Phục sinh để đưa nhân loại vào thiên đàng.
Giữa thế gian đầy tội ác, bất công, đói khổ hôm nay, Chúa Giêsu bảo chúng ta làm gì?
– Người Công giáo là ánh sáng giữa đen tối, là muối sống giữa thối nát, và là hy vọng giữa một nhân loại thất vọng (ÐHV. 950).
– Yêu Chúa là yêu trần gian. Mẹ say Chúa là mẹ say trần gian. Hy vọng ở Chúa là hy vọng trần gian được cứu rỗi (ÐHV. 954).
Và Chúa Giêsu dạy chúng ta phải tránh:
Thánh Phaolô hằng khuyên nhủ giáo dân đừng sống như những người không hy vọng (ÐHV. 951).
Ngài cũng phân tích cho chúng ta thấy những hạng người công giáo khác nhau, và chọn cho mình hướng đi đúng:
Có hạng “công giáo đợi chờ”, khoanh tay mong đợi niềm hy vọng đến.
Có hạng người “công giáo thụ động”, “trốn tránh, vô trách nhiệm”.
Họ chỉ biết “nhìn lên” đi kêu cứu, mà không biết “nhìn tới” để tiến, “nhìn quanh” để chia sẽ, gánh vác.
Niềm hy vọng đang ở giữa họ, mà họ không hay! (ÐHV. 966)
Làm một cuộc cách mạng: Ðừng đem đời người công giáo xa lìa môi trường, để quây quần quanh cái việc thiêng liêng. Ðẩy người công giáo mang niềm hy vọng của mình xâm nhập môi trường (ÐHV. 966).
– Không thể quan niệm được một Kitô hữu không mê say đem hy vọng ngập tràn thế giới (ÐHV. 972).
Ánh sáng ấy sẽ chiếu soi giúp ta vượt những thử thách,
– Con hy vọng luôn luôn, đừng chán nản vì những sự khó khăn nôi bộ, ngay trong việc tông đồ.
Như Thánh Phaolô: “Kẻ thì rao giảng Ðức Kitô vì lòng mến, bởi biết rằng tôi đã được chỉ định lo bênh đỡ Tin mừng. Kẻ thì lại giảng truyền Ðức Kitô vì ganh tị, ý định không tinh truyền, tưởng làm vậy sẽ gây thêm khổ cực cho cảnh lao tù của tôì. Cần chi! Dù sao đi nữa, bởi ý lành hay ý xấu, miễn là Ðức Kitô được rao truyền thì tôi vui mừng và tôi cứ vui mừng luôn!” (ÐHV. 976).
Và đời ta sẽ là một đời hy vọng
– Chấm nầy nối tiếp chấm kia, ngàn vạn chấm thành một đường dài.
Phút nầy nối tiếp phút kia, muôn triệu phút thành một đời sống.
Chấm mỗi chấm cho đúng, đường sẽ đẹp,
Sống mỗi phút cho tốt, đời sẽ thánh.
Ðường hy vọng do mỗi chấm hy vọng
Ðời hy vọng do mỗi phút hy vọng (ÐHV. 978)
Hướng đến năm 2000, Ðức Thánh cha Gioan Phaolô II gửi cho giới trẻ thế giới sứ điệp: Tuổi trẻ là chứng nhân của hy vọng.
Tôi xin tóm lược nội dung của cuộc sống chứng nhân, niềm hy vọng đó qua sơ đồ tóm lược sau đây, dựa vào mấy chữ đầu của tiếng La tinh SPES (= hy vọng); và tôi chuyển dịch qua tiếng Việt bằng bốn công tác dấn thân bắt đầu bằng chữ P.
S – Servire :                          P – Phục vụ
P – Progressione :                 P – Phát triển
E – Evangelisatione :            P – Phúc âm
S – Sanctificatione officii :   P – Phận sự
Khi chọn danh từ Hy vọng, tôi đã nghĩ đến 4 P nầy, vì nó là chương trình hành động, cho chúng ta hôm nay; thực hiện đúng, nó sẽ thành hy vọng.
Muốn rõ thêm chi tiết tư tưởng và hành động đúng một chiến sĩ, mời các bạn nghiên cứu thật kỹ hiến chế Mục vụ của Công đồng Vatican II, có tên là Vui-mừng và Hy-vọng, mà tôi đã chọn làm khẩu hiệu và chương trình lúc tôi được chọn làm giám mục (1967).
Sau đây tôi giải thích 4 P ấy:

* Phục vụ

Công đồng Vatican II đã cho chúng ta thấy Hội thánh hôm nay phải là “một Hội thánh phục vụ” – Khiêm tốn và làm ích cho trần gian như “Men trong bột” như “Muối dưới biển” như “Ánh sáng”, rất thinh lặng, người ta cũng chẳng để ý đến nhưng không thể thiếu cho sự sống được.
Chúa Giêsu nói: “Tôi không đến để được người ta hầu hạ, nhưng để phục vụ”. Và Ngài nói tiếp để giải thích sự phục vụ của Ngài: “Cha hiến mạng sống vì người khác”.
“Nếu Thầy là Chúa, là Thầy, mà còn rửa chân cho anh em, thì anh em cũng phải rửa chân cho nhau” (Gioan 13, 14).
Hy vọng hoàn thành nhân cách, hy vọng trở thành người Kitô hữu theo gương Chúa Kitô, hy vọng để kiến tạo một nước Việt Nam hoà bình, hạnh phúc, một giáo hội qui tụ những người con Thiên Chúa… sẽ không dựa trên ước mơ đề cao, tự phụ về mình, đoàn thể mình; không sử dụng cường lực, bắt ép; không đòi hỏi mình được tôn vinh và đặc quyền náo đó cho mình; cho cộng đồng mình…; nhưng “rửa chân cho nhau”, làm kẻ phục vụ tôn trọng, yêu thương: đó là con đường hy vọng, hằng ngày canh tân cuộc sống cá nhân, tạo bầu khí lành thánh cho xã hội và giáo hội.

* Phát triển

Ðức Giêsu bảo: “Họ không cần phải đi đâu cả, chính anh em hãy lo cho họ ăn” (Mt 14, 16).
Chúa Giêsu Kitô, con Thiên Chúa mang thân xác làm người, thức tỉnh chúng ta biết giá trị cao cả của thân xác con người chúng ta. Làm sao có thể thực hiện tình yêu thương người bên cạnh, khi có kẻ thừa thải cơm áo, tiền của dư đầy, nắm hết tiện nghi của cải và quyền lực, bên cạnh đa số người anh em lâm cảnh đói rách, bị đối xử bất công, bị tước bỏ quyền sống, quyền được tự do…
“Hãy cho họ ăn”, của ăn thân xác và tinh thần, bằng nổ lực đóng góp vào cuộc sống kinh tế, phát triển khoa học để phục vụ con người, đào sâu các giá trị văn hoá; bằng việc dấn thân tranh đấu cho công lý, hoà bình để nước Thiên Chúa là tình huynh đệ nhân loại mỗi ngày một thể hiện rõ nét hơn trên trần thế.
Hội thánh phục vụ bằng cách phát triển toàn diện con người. Trong những năm 60 thế giới bắt đầu nói rất nhiều đến “Phát triển”, Ðức Thánh cha Phaolô VI đã công bố Thông điệp “Phát triển các dân tộc” – trong đó Ngài công bố thành lập Ủy ban Giáo hoàng sau nầy trở thành Hội đồng Toà thánh Công lý và Hoà bình. Hội thánh nhằm lo cho con người sống xứng đáng địa vị làm con Chúa.
Phát triển đây không có nghĩa kinh tế mà thôi – nhưng là phát triển con người toàn diện, thể lý, trí thức, tâm linh…
Một điều quan trọng ở đây là đánh tan lối suy nghĩ sai lạc: Hội thánh chỉ lo phần linh hồn thôi, không lo phần xác. Lối suy nghĩ đó đi xa sự thật lịch sử: trở lại ngàn năm nay, đâu đó Hội thánh tổ chức trường học, viện cô nhi, dưỡng lão, trại bài phung, bệnh viện từ vườn trẻ đến đại học.v.v…
– “Phát triển là danh hiệu mới của hoà bình” (Ðức Phaolô VI).
Mặc dù giúp đỡ anh em sung sướng bao nhiêu đi nữa, nếu con để họ thành” bộ máy tự động”, con chưa làm cho họ phát triển thực sự (ÐHV. 586).
– Chấp nhận những người chỉ biết nằm, biết ngồi, chỉ muốn lẻo đẽo đi theo, muốn được giúp, được cứu, được cho, để con được làm ảnh tượng, được luôn luôn cần thiết, thực dễ vô cùng! Nhưng con hãy luyện những con người trách nhiệm, những con người muốn đứng, những con người đáng làm người (ÐHV. 592).
Thực là khó! Nhưng con phải quyết tâm giúp cho người khác:
* Biết vùng dậy.
* Biết suy tư.
* Biết tổ chức.
* Biết chiến đấu.
* Biết chống ngược ý con khi cần. Con sẽ hạnh phúc
thật vì anh em cùng thăng tiến với con (ÐHV. 593).
Nói tóm lại, Hy vọng là sức mạnh thúc đẩy chúng ta làm chứng về nổ lực dấn thân phát triển con người toàn diện.

* Phúc âm

“Vậy anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ” (Mt 28, 18).
– Hội thánh phục vụ bằng cách Phúc âm hoá chính mình để rồi Phúc âm hoá xã hội. Không phải để lôi kéo người ta vào đạo, nhưng để giá trị của Phúc âm soi rọi cho chúng ta sống tốt đẹp hơn.
Văn hào B. Pascal đã nói : “Khi tôi hiểu biết Thiên Chúa thì tôi cũng đã hiểu biết chính mình tôi”. Vì sao? Vì ý Thiên Chúa dựng nên tôi làm con Ngài, cao sang tốt đẹp hơn muôn phần, và những con người khác quanh tôi cũng cao cả như vậy.
Phúc âm là Lời đem đến ơn phúc, lời từ Thiên Chúa là Chúa Giêsu Kitô. Lời đó, vâng theo ý Chúa Cha, để làm một việc là yêu thương con người, và yêu thương đến độ hy sinh mạng sống mình.
Kitô hữu chúng ta không có con đường nào để chọn, nguồn sinh lực nào để múc lấy, mẫu mực nào để bắt chước, mục tiêu nào để đạt được ngoài Ðức Giêsu Kitô, được trao lại cho chúng ta qua các nội dung của Phúc âm.
Ðức Giêsu Kitô là lời làm thân xác, ở giữa chúng ta, không phải là lời nói suông nhưng là một con người, một cuộc sống.
Ra đi rao truyền Phúc âm là nghĩa vụ thiết yếu của Kitô hữu và Giáo hội, trước hết là toả lan ánh sáng yêu thương, tinh thần hy sinh, phục vụ người anh em, kể cả kẻ thù mình, như Chúa Kitô đã thực hiện.
– Con chỉ có một Nội qui: Phúc âm. Ðó là hiến pháp trên tất cả mọi hiến pháp. Là Hiến pháp Chúa Giêsu đã để lại cho các tông đồ; không khó khăn, phức tạp, gò bó như các hiến pháp. Ngược lại linh động, nhân hậu, làm phấn khởi linh hồn con.
Một vị thánh ngoài Phúc âm là “thánh giả” (ÐHV. 986).
– Quả tim con phải rộng đủ để chức đựng và rung nhịp với tất cả chương trình Phúc âm hoá của Hội thánh (ÐHV. 331).
Khi chiếu sáng Phúc âm chung quanh ta là ta làm tông đồ.
– “Tông đồ bằng hy sinh và thinh lặng” như hạt lúa chôn vùi, nát thối để sinh muôn ngàn hạt khác nuôi nhân loại.
“Tông đồ bằng chứng tích”. Lời quả quyết suông không đáng người ta tin tưởng mấy, dù ngọt ngào trau chuốt đến đâu.
Tang vật đáng tin hơn.
Hình ảnh chụp được, tiếng nói ghi âm được, càng dễ đánh động người ta hơn.
Nhưng chính con người sống động bằng xương thịt, nếu cả cuộc sinh hoạt, nếu cả một lớp người, một lớp gia đình cùng sống một lý tưởng, thì chứng tích ấy có một sức mạnh thuyết phục lớn lao biết chừng nào! (ÐHV. 332).
– Bí quyết công cuộc tông đồ trong thời đại ta:
Tông đồ giáo dân! (ÐHV. 335).
Thật thế, tại ngay Rôma nầy, trong ba năm qua, từng ngàn giáo dân tình nguyện làm “thừa sai đô thị”, thăm viếng, mang tặng Phúc âm đến từng gia đình trong giáo phận.
– Ðường lối của tông đồ thời đại ta:
* Ở giữa trần gian
* Không do trần gian
* Nhưng cho trần gian
* Với phương tiện của trần gian (ÐHV. 340)

* Phận sự

Mỗi người là một người con yêu quý của Thiên Chúa trong Ðức Kitô. Phẩm giá cao quí và độc đáo đó đi kèm với nghĩa vụ phải hoàn thành phận sự riêng, ơn gọi riêng của mình. Thay vì dành tất cả tài năng, sức lực để rình mò và chỉ trích việc làm của người bên cạnh, là một người anh em có những hoàn cảnh, khả năng, phận vụ riêng của người ấy, thì trước hết chúng ta mỗi người thành tâm, tích cực chu toàn trách nhiệm và phận vụ riêng của mình. Phận vụ đó muốn được thánh hoá để bắc nhịp cầu đến với người bên cạnh, thì cần thấm nhập tinh thần Ðấng Thánh của Thiên Chúa là Ðức Giêsu Kitô. Phận vụ của Ngài là yêu thương, phục vụ cho đến chết và chết trên Thánh giá.
Hội thánh phục vụ bằng các phận sự trần thế. Ðây là một linh Ðạo mới. Thường ta có quan niệm người thánh là người làm các việc đạo đức, tham gia các hội đoàn… nhưng quên rằng “nên thánh là chu toàn phận sự của mình”; ông Thánh Giuse nên thánh nhờ làm thợ mộc tốt, Ðức Mẹ nên thánh nhờ làm nội trợ tốt: làm tất cả vì Chúa Giêsu. Nguyên tắc rõ ràng hơn cả
– Thánh hoá bổn phận của con. Thánh hoá người khác nhờ bổn phận của con. Thánh hoá chính mình con trong bổn phận (ÐHV. 19)
Thánh hoá bổn phận của con: tôi là nhà báo, dân biểu, học sinh, làm bếp, tôi thánh hoá công việc của tôi, thay vì chỉ làm nghề lấy tiền, tôi làm thật tốt vì yêu mến Chúa – khác nhau lắm.
Thánh hoá người khác nhờ bổn phận con: qua tờ báo tôi viết tốt, bảo vệ sự thật, đem nguồn vui đến cho nhiều người; tôi làm dân biểu, phát biểu can đảm theo lương tâm, tôi thánh hoá người khác – Thế giới nầy không khá được, đất nước không đổi mới được – Vậy thì bao nhiêu nhà báo, bao nhiêu dân biểu, trí thức công giáo, tin lành,… ở đâu? Chúng ta sống như người vô tôn giáo. Và ta đã không thánh hoá người khác nhờ bổn phận.
Thánh hoá chính mình trong bổn phận: Dĩ nhiên khi làm như vậy ta phải hy sinh, can đảm, sáng suốt và bền chí, và ta nên thánh, đâu cần phải ăn chay, đánh tội… mà những người ở xung quanh không ai chịu nổi.
– Nếu ai cũng thánh hoá bổn phận, thì tâm hồn mới, gia đình mới, thế giới mới (ÐHV. 20)
– Một vị thánh ngoài bổn phận là thánh ở xa xa thường hay “làm phép lạ” sái nơi, sái giờ. Ðến gần thì gây lộn xộn, và hoang mang khó sống (ÐHV. 21).
– Giáo dân nghĩ: Thánh là sốt sắng kinh nguyện, giảng giải, xa lánh thế gian: họ hoá ra giáo sĩ, tu sĩ thời xưa. Tu sĩ nghĩ: Thánh là dấn thân giúp việc xã hội, hoạt động chính trị, tranh đua với giáo dân mà nhập thế. Loạn xà ngầu (ÐHV. 22).
– Các thánh không nên thánh vì nói tiên tri hay làm phép lạ. Các ngài đâu làm gì lạ! Họ chỉ chu toàn bổn phận (ÐHV. 25).
Trong tinh thần hy vọng và sức mạnh Phục sinh của Chúa Kitô, thi sĩ Joseph Folliet (1903-1972) đã viết:

Vui mừng và Hy vọng

“Cuối đường bạn đi
không còn là đường, nhưng là đích điểm lữ hành.
Cuối dốc bạn leo,
không còn là dốc, nhưng là đỉnh cao tuyệt vời.
Cuối đêm tối tăm,
không còn là đêm, nhưng là hừng đông rạng rỡ.
Cuối mùa đông giá,
không còn là đông, nhưng là mùa xuân ấm áp.
Cuối giờ bạn chết,
không còn là chết, nhưng là sự sống vĩnh hằng.
Cuối phút thất vọng,
không còn là thất vọng, nhưng là hy vọng tràn đầy.
Cuối cùng của nhân loại,
không còn là người, nhưng là Thiên Chúa làm người ở giữa chúng ta”.
Chính Ngài là vui mừng và hy vọng của chúng ta

 

MỘT VÀI SUY NGHĨ VỀ CHÂN DUNG NGƯỜI MỤC TỬ NHÂN LÀNH TRONG THỜ ĐẠI HÔM NAYH



Một vài suy nghĩ về chân dung “Người Mục Tử Nhân Lành” trong thời đại hôm nay


Chúng ta đang sống trong một xã hội phát triển với những tiến bộ của khoa học kỹ thuật. Đời sống con người không ngừng được cải thiện và nhu cầu cuộc sống ngày càng cao. Đó là những yếu tố tích cực cho từng cá nhân, gia đình, xã hội và Giáo hội. Tuy nhiên, song song với đà phát triển xã hội là sự suy thoái đến mức báo động của nền đạo đức luân lý. Điều này khiến bao nhà giáo dục, nhà chức trách tâm huyết trên thế giới nói chung và Giáo hội Chúa Kitô nói riêng, phải băn khoăn, trăn trở. Một câu hỏi khẩn thiết đặt ra là làm thế nào để cải thiện tình hình và ai mới là người dám xả thân vì lợi ích của cộng đồng? Chắc sẽ có nhiều câu trả lời cho vấn nạn này. Riêng với người Kitô hữu, có lẽ đa phần sẽ trả lời rằng, phải có linh mục, người đại diện Chúa Kitô ở trần gian để “nhập thế” và hướng đạo cho muôn người. Linh mục được xem như “vị mục tử nhân lành” chăn dắt đoàn chiên của Chúa. Chúa Giêsu đã kể dụ ngôn sau: “thật Thầy bảo thật các con: Ai không qua cửa mà vào ràn chiên, nhưng trèo qua lối khác mà vào, người ấy là kẻ trộm kẻ cướp. Còn ai đi qua cửa mà vào, người ấy là mục tử. Người giữ cửa mở cho anh ta vào, và chiên nghe tiếng của anh; anh gọi tên từng con, rồi dẫn chúng ra. khi đã cho chiên ra hết, anh ta đi trước và chiên đi theo sau, vì chúng nhận biết tiếng cảu anh. Chúng sẽ không theo người lạ, nhưng sẽ chạy trốn, vì chúng không nhận biết tiếng người lạ” (Ga10, 1-5).
Để trở thành mục tử, trước hết, linh mục phải là người “đi qua cửa mà vào ràn chiên”, nghĩa là, thiên chức linh mục phải là hoa quả của một đời dâng hiến hoàn toàn tự nguyện chứ không bị cưỡng ép. Linh mục tự nguyện đáp lại tiếng “xin vâng” trước Giáo hội khi lãnh tác vụ linh mục và từ đó trở thành “mục tử” trong cánh đồng truyền giáo. Khi đã quyết định tận hiến đời mình để phụng sự Chúa, linh mục không ngừng nổ lực để đảm đương sứ vụ của mình, theo lời dạy của Thầy Chí Thánh: “Ai muốn theo Ta, phải từ bỏ mình, vác thập giá mình mà theo” (Mt 16, 24). Và từ đó, cuộc đời linh mục gắn chặt với từng con chiên và cả đàn chiên.
Trước hết, là chủ chăn thì phải làm sao để chiên có thể nghe tiếng của mình. Vậy, tiếng nói của linh mục được thể hiện ở phương diện nào đây? Đó là lời dạy đức tin. Linh mục giúp dân nhận ra tiếng Chúa, nhận ra Chúa là một Thiên Chúa gần gũi, cùng đồng hành với con chiên và sẵn sàng nghe tiếng khẩn cầu của chúng. Tiếng nói của linh mục phải là tiếng nói yêu thương, xoa dịu những đau buồn của người dân, trút đi gắng nặng âu lo cho họ. Như nai rừng tìm về nguồn nước, giáo dân cũng khát Chúa Trời, khát lời Chúa. Vì thế, giáo dân sẽ buồn biết bao khi không nhận được nơi linh mục một lời dạy đức tin, một lời động viên ủi an khi thất vọng, một niềm vui trong chốn u sầu. Lời nói của linh mục phải khiêm nhường và dễ thương. Muốn thế linh mục phải gắn kết đời mình với đấng khởi nguồn yêu thương là Thiên Chúa, là tình yêu để kín múc tình yêu của Người. Giáo dân sẽ rất tinh ý và nhận ra đâu là tiếng nói của Chúa, đâu là tiếng nói nặng tính phàm tục. Giáo dân hiện nay không còn phải là những người dân ngu muội, thất học nhưng là những tú tài, những cử nhân, những tiến sĩ, bác sĩ… Vì thế, lời nói của linh mục phải có trọng lượng, của một nguơi có học vấn thực sự chứ không đơn thuần là những lời kinh hạt ê a suốt ngày. Cho nên, linh mục phải không ngừng nâng cao kiến thức đạo đời, phải thức thời, phải nắm bắt mọi thông tin, mọi chuyển đổi của thời đại để hướng dẫn cho giáo dân của mình, phải lo trau truốt bài giảng, giảng phải hay thì giáo dân đi lễ mới nhiều…
Linh mục còn phải là người biết yêu, tức là hiểu được tâm tình, sở thích, của đối tượng mình yêu là giáo dân. Trong dụ ngôn, Chúa đã đưa ra những động từ rất dễ thương như gọi tên từng con và dẫn chúng ra. Gọi tên từng con có nghĩa là biết hết từng đối tượng như người già cả, kẻ ốm đau, thanh niên nam nữ, trẻ con, người giàu sang, kẻ cùng quẩn… Điều này quả thực chẳng dễ chút nào, bởi vì có những giáo xứ đông tới hàng nghìn giáo dân thì làm sao linh mục biết được từng con chiên một. Tuy nhiên, biết ở đây không nhất thiết phải là biết tên từng cá nhân, gia đình nhưng biết tâm tư nguyện vọng của con chiên của từng giới. Cho nên, trong công tác mục vụ, linh mục phải linh động và đánh vào những điểm “nhấn” của từng vấn đề thích nghi với mọi giới, ví dụ: với giới trẻ linh mục cần tìm những hình thức hoạt động sôi nổi thể hiện tính trẻ trung và khuyết khích chúng tìm lý tưởng địch thực cho cuộc sống; với người già cả, nên dùng những phương pháp thiên về chiêm niệm, nguyện ngắm; với trẻ em thì những hình thức khơi lòng hiếu động như làm việc bác ái, thi đua làm việc lành… Linh mục cần tìm ra những khuyết điểm của giáo dân để bổ cứu và phát hiện những ưu điểm để khuyến khích, động viên. Một điều quan trọng nữa là linh mục phải nắm bắt được đặc trưng mục vụ của các vùng miền để đáp ứng cho thích hợp, ví dụ: không thể đem phương pháp mục vụ cho miền núi mà áp dụng cho đồng bằng, thành thị. Làm thế, chẳng khác nào xây nhà trên cát. Nếu linh mục cứ khăng khăng một phương pháp cổ hũ của mình cho mọi vùng miền thì không thể đáp ứng được với thời đại tân tiến như hôm nay. Việc đọc kinh cầu nguyện lâu giờ thậm chí suốt buổi chỉ có thể áp dụng được cho vùng quê, vùng sâu vùng xa, nơi đó người dân nhàn cư rãnh rang, nhưng không thể áp dụng cho giáo dân thành thị, nơi người ta đang sống trong mọt xã hội xô bồ, chạy đua với thời gian, giờ giấc hành chính… Như thế, linh mục trở nên nguời của muôn người, “làm dâu trăm họ” và hướng dẫn họ đi trong đường chân lý. Linh mục không còn chỉ biết sống cho riêng mình nữa; không còn trong biên giới của ích kỷ cá nhân mà vươn tới biên giới của muôn người, để sống cùng, sống với và sống vì con chiên.Tình yêu thương của linh mục giành cho con chiên không được vị kỷ hay thiên lệch. Linh mục sẵn sàng từ bỏ tình riêng để trao ban tình chung; linh mục khước từ những tình cảm vấn vương của gia đình để dang rộng cánh tay tới gia đình lớn hơn là Giáo hội, nơi đó, muôn người là anh em. Hy sinh là dấu chỉ của tình yêu. Người tông đồ của Chúa phải biết yêu: yêu các linh hồn, không phải vì mình nhưng vì Chúa. Do đó, người tông đồ cần phải biết từ bỏ mình trong mọi sự để chỉ tìm lợi ích cho con chiên. Tình yêu của chủ chăn còn phải được thể hiện sống động bằng các cử chỉ bên ngoài như hỏi han, thăm nom con chiên, chia sẻ vui buồn với nó. Ngôn ngữ của linh mục phải là ngôn ngử của bác ái. Chúng ta đã từng nghe tới tấm gương kiên trung của Đức Hồng Y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận, một “mục tử nhân lành” của Giáo hội Việt Nam chúng ta. Trong mười luật sống của ngài, chúng ta đọc thấy luật thứ 9 rằng: “Tôi chỉ nói một thứ ngôn ngữ duy nhất và mặc một thứ trang phục: Bác Ái”. Ngài kể rằng: Tôi bị bắt giam trong một thời gian dài suốt 13 năm. Có hai tên cận vệ canh chừng tôi nhưng chẳng bao giờ nói với tôi một lời, chỉ “có” và “không”. Nhưng cuối cùng, họ trở thành anh em của tôi chẳng phải vì tôi cho họ cái gì trị giá bằng vật chất, nhưng tôi đã cho họ tình yêu của Chúa Kitô. Tôi đã cười với họ, đã dạy ngoại ngữ cho họ, đã coi họ là bạn tôi, là anh em tôi. Thiết tưởng, không riêng gì Đức Hồng Y Nguyễn Văn Thuận, mỗi linh mục cũng phải biết sống bác ái yêu thương như Chúa đã yêu thương. Tình yêu của linh mục phải giống như tình yêu của Chúa: yêu đến độ chịu chết và chết trên thập giá.
Để dẫn dắt đoàn chiên tới cánh đồng, tới nguồn suối mát, linh mục (người chăn dắt các linh hồn) phải đi bước trước. Trong việc đạo đức, linh mục phải là tấm gương sống động về đời sống cầu nguyện. Linh mục phải tự nhận thức và giúp giáo dân nhận thức rằng đời sống cầu nguyện quá ư quan trọng:
“Nếu không thở bạn sẽ chết
Nhưng nếu không cầu nguyện,
Cuộc sống bạn chỉ trống rỗng vật vờ như các xác không hồn” (Soren Kier Kegard)
Dù trong hoạt động nào, dù trong việc đạo đức nào, linh mục cũng phải chỉ cho giáo dân một điều, một điều duy nhất mà thôi đó là Thiên Chúa, một Thiên Chúa vô cùng yêu thương ta, đã tạo dựng nên ta và cứu ta bằng giá máu Con Của Ngài. Thật nguy hiểm khi giáo dân chỉ thấy được vẻ oai vệ của vị linh mục, chỉ thấy được cái uy vì “thét ra lửa” của ngài mà không thấy được khuôn mặt khả ái của Chúa. Linh mục ý thức sâu xa rằng mình là sứ giả của Chúa, mọi thành công của mình là của Chúa. Và, khi danh của mình lớn lên thì danh Chúa bị nhỏ lại; khi tiếng nói hống hách của mình ngự trị thì tiếng nói yêu thương của Chúa bị tắt lịm đi. Linh mục phải sống một đời đạo đức thực sự chứ không phải chỉ với hình thức bề ngoài. Khi nói về linh mục, có người cho rằng: nếu linh mục mà thực sự thánh thiện thì giáo dân đạo đức; khi linh mục kha khá thì giáo dân bình thường. Vậy khi đời sống đạo đức linh mục bình thường thì đời sống giáo dân thế nào đây? Đó là một câu hỏi đang chất vấn mọi “mục tử” của Chúa và những ai đang tiếp bước trên con đường này.
Ngày nay, chúng ta đang sống trong một thời đại phát triển, đời sống vật chất đầy đủ, nhiều phương tiện thông tin liên lạc hiện đại phục vụ hữu hiệu cho cuộc sống con người. Tuy nhiên, nhiều người, đặc biệt giới trẻ đang lâm vào con đường tội lỗi: xem phim ảnh xấu, quan hệ nam nữ bất chính diễn ra tràn lan, tình trạng nạo phá thai đầy dẫy. Đối với họ, quan niệm về tội lỗi xem ra bị lu mờ đi nhiều. Linh mục phải tìm hiểu sâu xa nơi bản thân, ý thức về sự dữ nặng nề do tội lỗi gây nên để hướng dẫn người dân tránh xa, đồng thời phải có thái độ khoan dung với họ. Linh mục phải mặc lấy con người yêu thương, tha thứ của Chúa Giêsu: yêu thương hết mình, yêu thương vô vị lợi và yêu thương đến chết. Sống trong một xã hội đầy dẫy những bất công, hận thù, chiến tranh, loạn lạc, linh mục phải là nguời dũng mãnh trong đức tin, người trấn an giáo dân của mình trong mọi cảnh huống nghiệt ngã của cuộc sống, như Chúa Giêsu đã nói: “các con đừng sợ vì Thầy đã chiến thắng thế gian”.
Ngoài ra, linh mục không ngừng nâng cao kiến thức để thích ứng với mọi thời đại. Nhờ thế, đạo Chúa không ngừng được mở mang và “nhập thế” mọi nơi, mọi lúc. Có như thế người dân sẽ vững tin trong đời sống đạo vì có vị chủ chăn đáng kính, đáng tin của mình. Họ sẽ không nghe theo tiếng của người lạ vì họ đã có linh mục, người đại diện Chúa cho họ biết họ sẽ được sự sống viên mãn : “Ai theo Thầy sẽ có sự sống đời đời”. Thế nhưng có những lúc linh mục trở thành người lạ của dân, đó là khi ngài không còn nói tiếng nói của Thiên Chúa nhưng là tiếng nói của con người, của lòng ích kỷ, của cường quyền, của kiêu căng hống hách. Thật đáng thương cho đoàn chiên nào có một vị mục tử như thế. Lũ sói sẽ đến và đoàn chiên sẽ tan tác. Nếu linh mục trở nên người lạ thì sự hiện diện của ngài sẽ mãi mãi là tiếng thở dài nức nở của con chiên mình.
Cánh đồng truyền giáo đang trải ra mênh mông trước mắt chúng ta, nhiều uẩn khúc, chông gai đang chờ. Giáo hội đang ngày đêm kêu gọi và cổ võ những bước chân tận hiến cho công cuộc loan báo Tin Mừng. Chúng ta hãy biết quảng đại đáp lại tiếng Chúa mời gọi để lên đường, hầu mang lại nhiều hoa trái. Và, khi đã lên đường, chúng ta không ngại đau khổ, chông gai vì đã có Chúa đồng hành với chúng ta, vì sức mạnh thập giá và phục sinh của Chúa Kitô bao giờ cũng lớn hơn tất cả mọi sự dữ mà con người có thể sợ và phải sợ: “Ánh sáng chiếu soi trong bóng tối, và bóng tối không diệt được ánh sáng”. Mong sao các linh mục mãi mãi là những “mục tử nhân lành” của Chúa để dẫn dắt đoàn chiên Chúa tới cánh đồng đầy hoa thơm cỏ lạ, đầy gió mát trăng thanh, đầy suối mát sông dài, đầy hạnh phúc là nước thiên đàng mai sau.

Dòng Mến Thánh Gía Nha Trang 25 Nữ Tu khấn trọn đời



  Dòng Mến Thánh Gía Nha Trang 25 Nữ Tu khấn trọn đời


Sáng ngày 28.6.2014, Đức Cha Giuse Võ Đức Minh chủ sự Lễ Khấn Trọn Đời 25 Nữ Tu và Kim Khánh Khấn Dòng Nữ Tu Matta Nguyễn Thị Phượng tại nguyện đường hội dòng MTG Nha Trang. Đồng tế thánh lễ có cha TĐD GP Nha trang, quý cha giáo Chủng viện, quý cha Giám tỉnh cùng với hơn 60 linh mục trong và ngoài Giáo phận. Các tu sĩ nam nữ và quý thân nhân ân nhân các Tân Khấn Sinh hiệp thông tạ ơn và chung lời cầu nguyện.

Hình ảnh

Mở đầu bài giảng, Đức Cha Giuse dâng lên Thiên Chúa tâm tình thờ phượng, cảm mến tri ân, đặc biệt trong dịp có Nữ tu mừng 50 năm khấn dòng và 25 Nữ tu tuyên khấn trọn đời trong Hội dòng MTG Nha trang. Cảm tạ hồng ân Thiên Chúa. Cám ơn các chị em Nữ tu. Cảm ơn gia đình của các Nữ tu. Con cái đi tu là những bông hoa tốt đẹp của các gia đình, dâng con cho Chúa, cha mẹ tin tưởng và phó thác cho Hội dòng để những người con thân yêu được lớn lên trong Ơn gọi. Cảm ơn và trân trọng các gia đình rất nhiều.

Suy niệm Lời Chúa qua các bài đọc, Đức Cha Giuse mời gọi các Nữ tu hãy yêu mến và bước theo Đức Kitô chịu đóng đinh.

Anh chị em thân mến, một khi chúng ta tham dự lễ khấn trọn đời của một hội dòng, lòng chúng ta đầy tràn niềm vui và xúc cảm. Chúng ta chia vui với những người tận hiến cả cuộc đời của mình cho Chúa trong một hội dòng để tìm kiếm con đường nên thánh. Chúng ta đầy xúc cảm bởi vì những người trẻ tuồi lại dám dấn thân cả một đời của mình không tính toán so đo. Vì thế, chúng ta tin có ơn Chúa tác động nơi tâm hồn của những con người phát xuất từ các gia đình truyền thống đạo đức, phát xuất từ các giáo xứ truyền thống đạo đức. 

Công đồng Vaticanô II đã quả quyết rằng, ơn gọi tu trì là dấu chỉ sự phong phú của Giáo Hội địa phương. Chính vì lẽ đó, cùng với lời chúc mừng, tôi thay mặt cho Giáo Phận Nha Trang trân trọng và cám ơn các Nữ Tu tuyên khấn trọn đời hôm nay. Chúng con quyết định cho suốt cả cuộc đời chúng con. Chưa biết tương lai sẽ như thế nào nhưng chúng con tin vào ơn Chúa, tin vào lời cầu nguyện không những của gia đình, cha mẹ, họ hàng bạn hữu mà còn tin vào lời cầu nguyện của cả giáo phận trong đó có các cha xứ, có giám mục giáo phận chúng con. Lòng trân trọng biết ơn của hỗ trợ và đồng hành với chúng con trong suốt cuộc đời thánh hiến. 

Chúng con chọn Dòng Mến Thánh Giá Nha Trang, đó là nhà của chúng con, đó là gia đình của chúng con, vui buồn ở trong gia đình. Chính những bài học Lời Chúa cũng như lịch sử rất lâu đời của Hội Dòng Mến Thánh Giá như là ánh sáng và hành trang cho chúng con. 

Chúa Giêsu đã nói rất rõ “Ai muốn theo Ta, hãy từ bỏ mình, vác thánh giá hằng ngày mà theo Ta”. Đó là dấu chỉ của người môn đệ. Các Thánh Tông đồ không ngần ngại nói như thánh Phaolô “Tôi đành thua lỗ mọi sự để được cái lợi tuyệt vời là được biết Chúa và được thuộc trọn về Chúa ”. Chúa đối với Hội Thánh, đối với các tông đồ, đối với các thế hệ tín hữu là gì? Đó chính là Đức Giêsu Kitô chịu đóng đinh trên thập giá. Điều rất lạ lùng, những người lương dân cảm thấy bị xúc phạm, những người quyền thế thì thấy có cái gì đó quá yếu ớt nhưng mà Hội Thánh qua lời Thánh Tông đồ Phaolô nơi bài đọc thứ hai, đó là sức mạnh Thiên Chúa, đó là sự khôn ngoan tuyệt vời của Thiên Chúa. Và nếu chúng ta có thể nói, lịch sử của nhân loại cũng đã làm chứng về điều đó. Biết bao quyền lực thế gian một thời rồi qua đi, biết bao nhiêu danh vọng của thế gian có một thời rồi cũng qua đi, có bao nhiêu tiền của thế gian có một thời rồi cũng qua đi. Nhưng thập giá của Chúa vẫn tồn tại mãi, tồn tại ở nơi này, tồn tại ở nơi kia và bao lâu trên thế gian này còn những người tin vào Chúa Giêsu. Chúng ta quả quyết rằng, những người tin vào Chúa tồn tại cho đến ngày Chúa trở lại thì bấy lâu thập giá của Chúa vẫn là biểu tượng của sự khôn ngoan, biểu tượng của sức mạnh của Thiên Chúa. 

Anh chị em rất thân mến. Chúng ta tham dự vào lễ khấn, chứng kiến những người thân yêu tiến lên và tự nguyện cam kết suốt đời sống cho Chúa và Hội Thánh để phục vụ các linh hồn trong linh đạo của Hội Dòng Mến Thánh Giá Nha Trang. Chính vì lẽ đó, Giáo phận Nha Trang rất vui mừng, các linh mục cũng như giám mục với tất cả sự trân trọng và biết ơn đối với hội dòng cũng như chị em tuyên khấn.

Chúng con thân mến, chúng con đã biết rất nhiều về con đường chúng con chọn, cha đã có dịp gặp riêng chúng con. Hôm nay trong ngày lễ khấn trước mặt mọi người, ngoài tâm tình chúc mừng trân trọng và biết ơn đối với chúng con, cha muốn nói thêm điều này. Chúng con chọn Chúa Kitô chịu đóng đinh là đối tượng duy nhất của lòng trí chúng con. Chúa chịu đóng đinh trong quá khứ, thánh giá của Chúa nơi đây là điều kỳ diệu, Chúa Kitô được kéo dài, được hiện diện ở trong Hội Thánh, ở trong Giáo phận là Hội Thánh địa phương. Có những lúc, Đức Kitô như bị bách hại, có những lúc Đức Kitô như bị đóng đinh, có những lúc Đức Kitô như bị sỉ nhục. Thưa, những điều đó người ta tránh xa, nhưng chúng con đã chọn Đức Kitô chịu đóng đinh. Chúng con chọn Đức Kitô chịu đóng đinh, chọn làm gia nghiệp của mình, để chúng con cầu nguyện, để chúng con yêu thương, để chúng con làm những công việc đền tạ, phạt tạ hầu toát ra sức mạnh vô biên và sự khôn ngoan Thiên Chúa xuyên qua mầu nhiệm Thánh Giá. Sự nhạy bén của Dòng Mến Thánh Giá phải nằm ở chỗ đó, bởi vì Mến Thánh Giá đồng hành với Giáo Hội địa phương ngay từ thuở ban đầu với Đức Cha Lambert de la Motte và Đức Cha Francois Paullu. Yêu mến Giáo Hội địa phương, cầu nguyện cho Giáo Hội địa phương, đồng sinh đồng tử với Giáo Hội địa phương. Đó là ơn gọi của Mến Thánh Giá hiện nay. 

Trong nghi thức khấn dòng, Đức Giám Mục đeo nhẫn cho từng Nữ tu. Chiếc nhẫn ấy là dấu chỉ các Nữ tu từ nay là hôn thê, là người yêu của Chúa Giêsu. Lễ cưới của các Nữ tu không có xe hoa, không có chú rể, vì Tân Lang là Đức Kitô. Các Nữ tu trở thành tân nương, nhưng vẫn là những trinh nữ thanh khiết. Hình ảnh ấy, Thánh Phaolô ước muốn cho Giáo Hội. Ngài mong cho Giáo Hội được tinh tuyền như một người trinh nữ. Các trinh nữ được hiến thánh trong Giáo Hội luôn được quý trọng, được đề cao. 

Đức Giám Mục trao cho mỗi Nữ tu một thánh giá. Chúa Kitô đã đạt tới Vinh Quang bằng Con Đường Thánh Giá. Người đạt tới tột điểm của hạnh phúc kinh qua con đường khổ nạn. Đó là đường lối mà Chúa Cha đã vạch ra cho Chúa Kitô, cho Giáo Hội và cho mỗi một người Kitô hữu. Ai muốn là môn đệ của Người, đều phải theo con đường ấy. Các Nữ tu khấn dòng đã chọn con đường ấy một cách đặc biệt hơn. Các Nữ tu đã chọn Dòng Mến Thánh Giá. Suốt cuộc đời, các Nữ tu tuyên dương Thánh Giá Cứu Độ của Chúa Kitô.

Qua lời tuyên khấn trọn đời, Chúa Giêsu và Nữ tu kết duyên với nhau một cách thiêng liêng cao trọng bằng sự chung thủy như ngôn sứ Ôsê đã từng nói: “Ta sẽ đính hôn với ngươi bằng đức trung tín, và ngươi sẽ biết Yavê.” (Hs 2,22). Nữ tu dâng trọn xác hồn cho Chúa Giêsu, như lời nhận xét của thánh Phaolô khi nói với giáo đoàn Côrintô: “Người trinh nữ chuyên lo việc Chúa, để trọn thuộc về Chúa cả hồn lẫn xác.” (1 Cr 7,34).

Cuối thánh lễ, Nữ tu Matta Nguyễn Thị Xinh, Tổng phụ trách, thay mặt Hội dòng dâng lời tri ân, lời cám ơn đặc biệt với Nữ tu Matta cây đại thụ của hội dòng, 19 chị em khấn dòng cách đây 50 năm nay chỉ còn một mình chị Matta.